Chính phủ ban hành nghị định mới quy định chi tiết mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, làm rõ trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động và vai trò hỗ trợ của Nhà nước.
Từ đầu năm nay, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 374 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp. Nghị định làm rõ đối tượng tham gia, mức đóng và trách nhiệm của các bên, góp phần hoàn thiện chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh thị trường lao động còn nhiều biến động.
Quảng Cáo
Theo quy định, người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương tháng, trong khi người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Đây là mức đóng thống nhất, nhằm bảo đảm nguồn quỹ hỗ trợ người lao động khi rơi vào tình trạng mất việc làm.
Quảng Cáo

Đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách Nhà nước sẽ bảo đảm toàn bộ nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp. Trường hợp chỉ được bảo đảm một phần kinh phí, ngân sách sẽ đóng bảo hiểm thất nghiệp cho số lao động hưởng lương từ ngân sách; phần còn lại do đơn vị tự bảo đảm theo quy định. Với các doanh nghiệp, khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ.
Nghị định cũng quy định Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động đang tham gia, nguồn hỗ trợ do ngân sách Trung ương bảo đảm. Đây được xem là điểm tựa quan trọng, thể hiện vai trò điều tiết và trách nhiệm của Nhà nước trong việc chia sẻ rủi ro với người lao động và doanh nghiệp.
Một nội dung đáng chú ý khác là việc xác định 6 trường hợp người lao động được coi là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Nghị định, người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 36 và Điều 38 Luật Việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
1- Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
2- Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
3- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
4- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
5- Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
6- Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Về mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, nghị định quy định người lao động được hưởng hằng tháng bằng 60% mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp. Trường hợp có gián đoạn đóng bảo hiểm, mức hưởng được tính trên bình quân của 6 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Mức trợ cấp hằng tháng tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm người lao động chấm dứt hợp đồng.
Trong bối cảnh thị trường lao động còn nhiều biến động, những quy định mới về bảo hiểm thất nghiệp không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có giá trị xã hội sâu sắc, giúp người lao động yên tâm hơn khi không may mất việc, giảm áp lực kinh tế cho gia đình và góp phần giữ ổn định đời sống cộng đồng. Bảo hiểm thất nghiệp vì thế không chỉ là quyền lợi, mà còn là điểm tựa an sinh quan trọng, thể hiện tinh thần sẻ chia và trách nhiệm xã hội trong quan hệ lao động hiện đại.
Bạch Dương ( SKV 9:59 Ngày 9/1/2026 )
Quảng Cáo Liên Quan
